Tin tức - Chú ý với những cách thức đánh cắp bí mật kinh doanh

Bí mật kinh doanh từ lâu đã đóng vai trò như “xương sống” của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt nên bí mật kinh doanh luôn trong tình trạng bị rình mò ,bị đánh cắp. Vậy bí mật kinh danh bị đánh cắp như thế nào? Những hành vi nào là được xem là hành vi sử dụng trái phép bí mật kinh doanh ?

 

1. Bí mật kinh doanh bị đánh cắp như thế nào ?

 

- Từ những đe dọa từ bên ngoài bao gồm: Các doanh nghiệp đối thủ thuê thực hiện hành động gián điệp với tội phạm chuyên nghiệp nhắm đến những công nghệ cụ thể, tiến hành tấn công hệ thống mạng, lấy trộm máy tính xách tay:

 

+ Truy cập vào mã nguồn, thiết kế sản phẩm, kế hoạch tiếp thị, danh sách khách hàng;

 

+  Tiếp cận nhân viên để thu thập thông tin về công ty, v.v..

 

Các doanh nghiệp đang nỗ lực bảo vệ bí mật kinh doanh của họ bằng cách áp dụng các biện pháp an ninh doanh nghiệp và các điều khoản bảo mật trong hợp đồng lao động, chuyển giao quyền sử dụng công nghệ, hợp đồng phân phối và liên doanh.

 

- Trộm cắp nội bộ: Trộm cắp nội bộ được thực hiện một cách cố ý bởi các công nhân bất mãn hoặc các nhân viên. Một số người cho phép mình cung cấp thông tin cho các nhân viên tình báo của đối thủ cạnh tranh, vì tiền hoặc đôi khi chỉ vì thù oán. Chẳng hạn : Một nhân viên bị sa thải hoặc bị mất việc làm có thể trực tiếp tới một đối thủ cạnh tranh và cung cấp thông tin để trả thù hay kiếm tiền bằng cách tiết lộ những bí mật kinh doanh của bạn: như chiến lược tiếp thị, hoặc kế hoạch sản phẩm mới – dù đã ký hợp đồng bảo mật.

 

 

2. Những hành vi nào là được xem là hành vi sử dụng trái phép bí mật kinh doanh

 

Tại Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh như sau :

 

1. Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh:

 

a) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

 

b) Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

 

c) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh;

 

d) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan có thẩm quyền;

 

đ) Sử dụng, bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được có liên quan đến một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này;

 

e) Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật quy định tại Điều 128 của Luật này.

 

2. Người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm chủ sở hữu bí mật kinh doanh, người được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng bí mật kinh doanh, người quản lý bí mật kinh doanh.

 

Vì vậy, khi phát hiện có chủ thể “đánh cắp” hoặc bộc lộ trái phép bí mật kinh doanh của mình; chủ sở hữu bí mật kinh doanh có thể yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi và bồi thường thiệt hại là hậu quả của hành vi vi phạm; hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có biện pháp xử lý như phạt tiền; tịch thu tang vật, phương tiện, khoản lợi nhuận có được do thực hiện hành vi pham… hay các biện pháp khác theo quy định của pháp luật về cạnh tranh và sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, dù các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có áp dụng các biện pháp luật định để xử lý các hành vi xâm phạm đến bí mật kinh doanh; thì thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra chưa chắc có thể khắc phục đầy đủ. Do đó, các chủ thể sở hữu bí mật kinh doanh phải có các biện pháp, chiến lược quản lý và bảo hộ bí mật kinh doanh thích hợp để không rơi vào tình trạng “mất bò mới lo làm chuồng”.

 

Mọi thông tin, vấn đề thắc mắc cần giải đáp, liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật miễ phí 1900 6110 để được hỗ trợ từ những Luật sư kinh nghiệm nhất của Newvision LawFirm

 

Tin liên quan: